Posts Tagged ‘Nga Sơn’

Gỏi cá nhệch

Wednesday, May 7th, 2008

Gỏi cá nhệch Nga Sơn - Tỉnh Thanh Hóa

Gỏi nhệch làm bằng thịt cá lát mỏng, trộn thính gạo thơm lừng. Da cá chiên vàng, cuộn cùng gỏi và các loại lá ăn kèm, tạo nên hương vị đặc sắc của vùng Nga Sơn, Thanh Hóa.

Thanh Hóa có vùng quê Nga Sơn mới có loài cá nhệch này, bởi chúng chỉ ở nơi có bãi biển phù sa. Sau cữ mưa ngâu trở đi độ hai tháng là mùa đi bắt cá nhệch. Con cá nhệch hình dáng nửa giống con lươn về độ dài nhưng bề ngang lại giống con cá trình. Cá nhệch có thân dài hàng mét, con nhỏ thì 3-4 lạng, con to nặng tới cả cân. Cá nhệch rất khỏe và hung dữ. Mình cá trơn nhẫy nên rất khó bắt bằng tay hay đánh lưới. Chỉ bắt được cá nhệch bằng hai cách là ra cửa biển đóng đáy bắt cá hoặc dùng những chiếc dĩa ba răng to và chắc khỏe để đâm cá. Những người bắt cá phải đi dọc chiều con nước, tìm đúng ổ cá, thật tinh mắt lần theo lườn con nhệch để đâm trúng lườn. Người bắt cá thường là đàn ông bởi bắt cá theo cách này ngoài việc tinh mắt, khéo tay, thì cần phải có sức khỏe và tay nghề cao mới bắt được nhệch bởi nó có sức cuộn lớn. Đâm được cá rồi mà không giữ chắc, nó sẽ vẫy vùng và trườn mất.

Từ cá nhệch có thể chế biến được nhiều món như kho, rán, nấu canh chua, om… nhưng có lẽ cá nhệch nổi tiếng hơn cả bởi món gỏi cá. Ngày xưa, gỏi cá nhệch chỉ được phổ biến trong vùng, nhưng ngày nay nó đã được phát triển rộng rãi ra cả tỉnh, nhất là những khu du lịch để khách tham quan có thể thưởng thức đặc sản của xứ Thanh.

Ðể món gỏi không bị tanh, sau khi bắt cá về, lấy nước vôi, nước tro, lá hóp tuốt sạch chất nhờn trên da cá. Sau khi da cá được lột sạch, cá được mổ sống lưng như làm lươn để lọc xương. Thịt cá sẽ được thái lát mỏng tang sau đó trộn với thính. Thịt cá tươi cắt thành lát có mầu hồng giống thịt của cá chuối. Thính được làm từ gạo nếp rang giã nhỏ mới có mùi thơm và bùi. Khâu lột da và thái thịt cá để trộn thính cần phải làm nhanh tay, bởi khâu này quyết định món gỏi cá có thành công hay không. Xong khâu này, người ta mới đem da cá rán giòn để sau đó cuộn với gỏi. Còn xương cá đem vào cối giã nhuyễn để nấu chẻo. Món chẻo nấu om được pha chế với gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu, sả băm nhỏ.

Món chẻo ngon phải đặc sánh để khi tưới lên cá, nước chẻo bám đều vào thịt cá, không bị chảy nước ra tay. Chẻo ngon phải có mầu đỏ sậm, có mùi thơm của các loại gia vị hòa quyện với nhau. Sau cùng là mới đến việc pha chế nước chấm. Nước chấm gỏi được làm từ nước mắm , gừng tươi, tỏi, ớt, hạt tiêu. Có người lại chấm gỏi với mắm tôm thì càng dậy mùi. Món ăn được hoàn tất và bày ra mâm chỉ đợi người thưởng thức.

Gỏi được ăn kèm với bánh đa vừng nổi tiếng của Thanh Hóa với những loại lá đúng chất xứ Thanh: rau má, diếp cá, mùi tàu, sung muối, rau mùi, rau đinh lăng, lá sung… Có lẽ chính những thứ lá này đã tạo nên hương vị riêng, khó trộn lẫn của món gỏi cá nhệch. Mỗi người thưởng thức gỏi bằng cách riêng của mình. Người thì cuốn cá với các loại lá, người lại cuốn gỏi bằng chính da cá rán, không cuốn bằng bánh đa nem như các loại gỏi khác. Gỏi cá nhệch có mùi vị thơm ngon đặc trưng.

Hình Ảnh:

Gỏi cá

Gỏi cá

Hình chỉ mang tính minh họa.

Chiếu Nga Sơn

Tuesday, May 6th, 2008

Chiếu Nga Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chiếu Nga Sơn là một loại chiếu cói được dệt tại huyện Nga Sơn, một huyện ven biển của tỉnh Thanh Hoá. Huyện Nga Sơn có 27 xã. Thập niên 1980 chỉ có các xã như: Nga Thuỷ, Nga Tân, Nga Thanh, Nga Liên, Nga Tiến là làm nghề trồng cói và dệt chiếu. Nhưng ngày nay rất nhiều nơi trong huyện này trồng cói như xã Ba Đình, Nga Thạch… cũng trồng nhiều vì lợi ích kinh tế của nó mang lại. Ngoài dệt chiếu, cói còn được dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ( Nghề này phát triển chủ yếu ở Kim Sơn, Ninh Bình). Nguồn xuất chủ yếu là sang Liên Xô cũ, và bán nội địa. Ngày nay cói được xuất chủ yếu sang Trung Quốc.

Sản xuất chiếu

Thu hoạch cói

Để làm ra cây cói đẹp, người dân phải một nắng hai sương, đầu tiên là làm cỏ, cỏ gà và chủ yếu là những cây sậy, phải nhổ chúng đi vì khi bón phân đạm cho cả ruộng mà còn cây sậy thì chúng ăn hết phân và phát triển rất nhanh. Sau đó đến vụ thu hoạch vào tháng 6 đến tháng 9 hàng năm (mùa hè). Cói khi đó đã phát triển rất nhanh cao khoảng 1,7m đến 1,8m. Người dân dung liềm, một loại liềm chuyên dụng chỉ có ở vùng cói để cắt. Liềm có hình dạng số 7 , được rèn bằng loại thép rất tốt. Từng đám được cắt và người cắt dũ và phân loại, thường thì thành 3 loại: loại dài nhất là 1,75m ( dùng để dệt chiếu lại 1,6m và 1,5m) loại trung bình dài khoảng 1,5m và loại ngắn nhất (loại này dệt chiếu cá nhân 0,9 - 1,0m)còn lại là những cây cói chết gọi là ” bổi”. Bổi thường được dùng để đun nấu va lợp nhà. Sau đó lợi dụng thuỷ triều lên, người dân thả những đóm cói xuống ngánh và dòng dây thừng kéo về sân phơi ( sân phơi là khu đất mà hợp tác xã chia cho người dân dùng để phơi cói khi vụ mùa và trồng khoai hoặc ngô khi hết vụ). Sau đó cói được vớt lên và xếp vào đống. Cói được chẻ ra làm đôi bằng máy chẻ cói, gọi là máy nhưng thực ra chỉ là 2 trụ gỗ hình tròn, đường kính khoảng 120mm, dài khoảng 350 đến 400mm, ở giữa có 1 lưỡi dao được đánh bằng sắt tốt. Từng nắm cói được một người cầm và đưa qua, một người ngồi đối diện kéo cây cói đã được chẻ đôi xếp thành bó gọi là ” mưởng “. Sau đó được đem phơi vào buổi sáng, nếu trời nắng đẹp thì khoảng 3 ngày nắng to là ok, còn trời mưa thì thật là buồn, vì nước mưa mà ngấm vào thì coi như là cói xấu, mất giá! Một buổi chạy mưa thì thật là khốn khổ, bở hết cả hơi tai, vì mùa thu hoạch vào mùa hè nên thường có bão, người dân ai cũng phải nghe radio để theo dõi thời tiết nắng mưa thế nào…

Xử lý cói và đan chiếu

Cói 1 nắng gọi là ” ưởn ” được đánh đống để ngoài sân phơi, che bằng bổi đã khô, sau ba nắng là cây cói có màu trắng xanh là mọi người ” gù” lại và chở về nhà đánh đống (che bằng bạt hoặc bổi) để chống ẩm. Khi hết mùa thu hoạch, hầu hết nguời dân ở vùng cói ở nhà dệt chiếu. Cói được chọn loại bỏ những cây xấu và bắt đầu dệt. Thường thì mọi người dệt chiếu cho đến vụ mùa năm sau. Bắt đầu bằng sợi đay, người ta dùng đay sợi đi một cái gọi là cầu đay, tuỳ từng loại chiếu mà họ mua từng loại cầu đay khác nhau. Sau đó là mắc cầu, xuyên những sợi đay qua cái ” go “. Mỗi và chiếu gồm 2 người dệt, 1 người ruôn cây cói vào và một người đập. Để dệt được 1 lá chiếu đẹp thì 2 người mất khoảng 3-4 giờ đồng hồ. nếu dệt hoa văn thì phải nhuộn cói bằng phẩm màu , thường thì chỉ có các màu đỏ, vàng , xanh. Hoặc in và hấp. Khi kết thúc 1 lá chiếu thì cắt ra và một người gim những đầu để thừa để giữ cho cây cói không bị bong ra khi sử dụng.

Hình Ảnh:

Chiếu cói

Hình chỉ mang tính minh họa.

Khởi nghĩa Ba Đình

Tuesday, May 6th, 2008

Khởi nghĩa Ba Đình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Khởi nghĩa Ba Đình là một trong các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ 19 của nhân dân Việt Nam chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp, diễn ra vào năm 1886-1887 tại Ba Đình - Nga Sơn, Thanh Hoá.

Mục lục

Phong trào Cần Vương

Năm 1885, sau khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi lên chiến khu Tân Sở (Quảng Trị) ra chiếu Cần Vương kêu gọi toàn dân kháng chiến. Chiếu Cần Vương đã mở ra một giai đoạn mới trong phong trào chống Pháp của nhân dân Việt Nam cuối thế kỷ 19. Hưởng ứng Hịch Cần Vương, Đinh Công Tráng đã cùng các đồng chí của mình đã chọn Ba Đình làm căn cứ kháng chiến lâu dài.

Lãnh tụ

Khởi nghĩa Ba Đình dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt và một số tướng lĩnh khác.

Đinh Công Tráng (1842-1887)

Đinh Công Tráng sinh năm Nhâm Dần (1842), quê ở làng Trinh Xá, huyện Thanh Liêm (Hà Nam).

Là một người yêu nước và thiết tha với vận mệnh của tổ quốc, ông không thể ngồi yên khi đất nước bị Pháp giày xéo. Đang làm chánh tổng, Đinh Công Tráng đã rời quê gia nhập đội quân của Hoàng Kế Viêm. Khi Hoàng Kế Viêm phối hợp với quân cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc cầm cự với Henri Rivière, Đinh Công Tráng đã tham gia trận đánh ở Cầu Giấy. Nhờ có kinh nghiệm chiến đấu, ý chí dũng cảm và tư chất thông minh nên ông đã trở thành lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Ba Đình.

Phạm Bành (?-1887)

Phạm Bành là một viên quan chủ chiến, quê ở làng Tương Xá (Hậu Lộc, Thanh Hóa) đã treo ấn từ quan về quê vận động sĩ phu và nhân dân khởi nghĩa. Trong nghĩa quân ông là người đứng thứ hai sau Đinh Công Tráng.

Căn cứ Ba Đình

Căn cứ Ba Đình cách huyện lỵ Nga Sơn 4 km, tây bắc giáp huyện Hà Trung, được xây dựng trên địa bàn ba làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh và Mỹ Khê. Vào mùa mưa, căn cứ này trông như một hòn đảo nổi giữa cánh đồng nước mênh mông, tách biệt với các làng khác. Căn cứ này gọi là Ba Đình vì mỗi làng có một cái đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia. Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công Tráng đã cho bao bọc xung quanh căn cứ là lũy tre dày đặc và một hệ thống hào rộng, cắm đầy chông tre. Ở trong là một lớp thành đất cao 3 m, chân rộng 8 đến 10m. Trên mặt thành, nghĩa quân đặt các rọ tre chứa đất nhào rơm xếp vững chắc có những khe hở làm lỗ châu mai sẵn sàng chiến đấu. Thành rộng 400 m, dài 1.200 m. Phía trong thành có hệ thống giao thông hào dùng để vận chuyển lương thực và vận động khi chiến đấu. Ở những nơi xung yếu đều có công sự vững chắc. Các hầm chiến đấu được xây dựng theo hình chữ “chi”, nhằm hạn chế thương vong. Ở mỗi làng, tại vị trí ngôi đình được xây dựng một đồn đóng quân. Ở Thượng Thọ có đồn Thượng, ở Mậu Thịnh có đồn Trung và ở Mỹ Khê có đồn Hạ. Ba đồn này có thể hỗ trợ tác chiến cho nhau khi bị tấn công, đồng thời cũng có thể chiến đấu độc lập. Có thể nói rằng căn cứ Ba Đình có vị trí tiêu biểu nhất, là một chiến tuyến phòng ngự quy mô nhất thời kỳ Cần Vương cuối thế kỷ 19. Ngoài Ba Đình, còn có các căn cứ hỗ trợ: căn cứ Phi Lai của Cao Điển, căn cứ Quảng Hóa của Trần Xuân Soạn, căn cứ Mã Cao của Hà Văn Mao.

Tổ chức biên chế

Lực lượng nghĩa quân Ba Đình gồm khoảng 300 người, có lúc đông tới hai vạn người, tuyển từ ba làng và các vùng Thanh Hóa, bao gồm cả người Kinh, Thái, Mường. Nghĩa quân có 10 toán, mỗi toán có một hiệp quản chỉ huy. Về vũ khí, nghĩa quân tự trang bị bằng súng hỏa mai, giáo mác, cung nỏ.

Diễn biến

Nghĩa quân của Đinh Công Tráng đã đánh nhiều trận giành thắng lợi Năm 1886, nghĩa quân liên tiếp tiến công các phủ, thành, huyện lỵ, chặn đánh các đoàn xe, các toán quân lẻ, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại. Ngày 12 tháng 3 năm 1886 lợi dụng phiên chợ đã tấn công Tòa Công sứ Thanh Hóa. Và tiếp đó, nghĩa quân đã tấn công nhiều phủ thành, chặn đánh các đoàn xe, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại.

Từ 18-12-1886 đến 20-1-1887 Đại tá Brissand thống lĩnh 76 sĩ quan và 3.500 quân vây hãm và tiến đánh căn cứ Ba Đình. Quân Pháp đã nã tới 16.000 quả đại bác trong vòng một ngày trời, biến căn cứ Ba Đình thành biển lửa. Nghĩa quân Ba Đình đã chiến đấu trong suốt 32 ngày đêm chống lại kẻ thù đông gấp 12 lần, được trang bị vũ khí tối tân hiện đại. Trong những trận chiến đấu vô cùng ác liệt này, nghĩa quân đã mưu trí dũng cảm, bám trụ từng tấc đất, đập tan nhiều cuộc tấn công, gây tổn thất nặng nề cho quân đội Pháp, làm chấn động tinh thần binh lính Pháp ở Việt Nam và còn là nỗi lo sợ cho bọn Pháp ở chính quốc. Nhưng vì lực lượng quá nhỏ không thể đương đầu với đội quân Pháp vừa đông vừa mạnh, nên lực lượng của nghĩa quân Ba Đình bị thương vong nhiều. Để tránh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn, nghĩa quân Ba Đình đã mở con đường máu vượt qua vòng vây dày đặc của quân Pháp, rút khỏi căn cứ lên Mã Cao để củng cố lực lượng và chuẩn bị cuộc chiến đấu mới. Đến sáng ngày 21 tháng 1 năm 1887, quân Pháp mới chiếm được Ba Đình. Sau đó, quân Pháp đã triệt hạ hoàn toàn cả ba làng của căn cứ Ba Đình, tiếp tục cho quân truy kích nghĩa quân ở Mã Cao, rồi tiếp tục đến Thung Voi, Thung Khoai và cuối cùng là tận miền tây Thanh Hóa, nơi đóng quân của Cầm Bá Thước. Các thủ lĩnh Nguyễn Khế, Hoàng Bật Đạt hy sinh. Phạm Bành, Hà Văn Mao, Lê Toại tự sát… chỉ còn Đinh Công Tráng chạy về Nghệ An. Quân Pháp treo giải cái đầu ông với giá trị tiền thưởng rất cao. Mùa hề 1887, vì tham tiền viên Lý trưởng làng Chính An đã mật báo cho quân Pháp đến bắt và sát hại Đinh Công Tráng.

Giá trị lịch sử

Cuộc khởi nghĩa Ba Đình và lãnh tụ Đinh Công Tráng được lịch sử đánh giá rất cao. Chính người Pháp đã phải thừa nhận “1886-1887, cuộc công hãm Ba Đình là quan trọng nhất, cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân lực nhất và làm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhiều nhất.

Hồ Chí Minh sau này đã chọn tên Ba Đình để đặt cho Quảng trường Ba Đình, nơi đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hiện nay di tích lịch sử Chiến khu Ba Đình thuộc xã Ba Đình, cách trung tâm huyện Nga Sơn 4 km về phía Tây - Bắc đã được xếp hạng cấp quốc gia.

Xem thêm

Tài liệu tham khảo

  • Đinh Xuân Lâm - Trịnh Nhu - Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh- Nhà XB Thanh Hóa - 1985.

Liên kết ngoài

  1. Đinh Công Tráng: Lãnh tụ kiên cường của nghĩa quân Ba Đình
  2. 120 năm cuộc khởi nghĩa Ba Đình: Nghĩa quân quả cảm

Cửa biển Thần phù

Tuesday, May 6th, 2008

Cửa biển Thần Phù

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Cửa Thần Phù là tên một địa danh lịch sử xa xưa gắn với nhiều truyền thuyết, thực chất là một vùng đất nằm hai bên cửa biển cũ nay đã ở trong đất liền thuộc ranh giới giữa 3 huyện Nga Sơn (Thanh Hóa); Yên MôKim Sơn (Ninh Bình). Ngày nay khu vực này đã được phù sa bồi đắp thuộc lưu vực sông Càn. Di tích cửa Thần Phù ở Yên Mô nằm trên vách núi đá có khắc chữ “Thần” (神) lớn hướng ra phía biển, phía dưới là khu vực người hành hương có thể thăm viếng.

Theo truyền thuyết, vua Hùng[1] (Có tài liệu cho rằng vua Trần[2]) mang quân Nam chinh, qua vùng cửa biển Thần Phù gặp gió to sóng dữ, không đi được; may nhờ một đạo sĩ có phép thuật cao cường dẹp yên sóng dữ. Khi ban sự trở về, đạo sĩ đã mất ở dọc đường. Vua Hùng cho lập đền thờ ở cửa biển, phong hiệu là “Áp Lãng Chân Nhân” (người dẹp yên được sóng dữ). Hiện nay đền thờ và những di chứng khác vẫn còn ở thôn Nhân Phẩm, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Mục lục

Trong thơ ca

Ca Dao

Ca dao Việt Nam có câu:

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm.

Từ việc chèo lái con thuyền qua cửa Thần Phù là nơi có dòng nước xoáy rất nguy hiểm, câu ca dẫn đến việc phải chèo lái con thuyền cuộc đời qua cửa biển trần gian. Từ chỗ chèo lái đi đến việc tu thân tích đức. Theo chữ nho thì tu có nghĩa là sửa, còn tu thân là sửa mình. Ở đâu mà không phải sửa mình, vì nhân vô thập toàn, nếu còn khuyết điểm thì còn phải sửa.

Thơ Nguyễn Trãi

:Quá Thần Phù hải khẩu

Thần Phù hải khẩu dạ trung qua
Nại thử phong thanh nguyệt bạch hà
Giáp ngạn thiên phong bài ngọc duẩn
Trung lưu nhất thủy tẩu thanh xà
Giang sơn như tạc anh hùng thệ
Thiên địa vô tình sự biến đa
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ
Tứ minh tòng thử tức kình ba.
:Qua cửa biển Thần Phù - Người dịch: Hoàng Khôi

Thần Phù qua bến ánh giăng lồng
Gió mát canh khuya cảnh vĩ hùng
Nghìn ngọn theo bờ , hình lá trúc
Một chiều giữa bể uốn thân rồng
Nuớc non như cũ người đâu vắng
Giời đất vô tình việc rối bồng
Hồ Việt một nhà may được thấy
Từ nay kình ngạc sạch giòng sông

Trong truyền thuyết

Liên quan đến vùng cửa biển Thần Phù có nhiều truyền thuyết nổi tiếng như: Từ Thức gặp Giáng Hương (xem Động Từ Thức), truyền thuyết Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang, truyền thuyết về võ ngựa quân binh Tây Sơn Nguyễn Huệ tiến về Thăng Long .v.v.

Mã Viện

Theo thư tịch cổ, đầu Công nguyên cửa Thần Phù nằm trên đường hành quân xâm lược của nhà Hán do lão tướng Mã Viện cầm đầu. Tháng 11 năm 43 (SCN), sau khi tiêu diệt xong lực lượng kháng chiến của Hai Bà Trưng, Mã Viện trực tiếp chỉ huy 2 vạn quân cùng 2 nghìn tàu thuyền lớn nhỏ tiến vào Cửu Chân (Thanh Hóa nay) tiến đánh lực lượng kháng chiến của lão tướng Đông Dương bằng hai đường thuỷ, bộ. Cánh quân bộ bị chặn đứng lại trước núi rừng vùng Tam Điệp ngày nay. Cánh quân thuỷ bị chao đảo trước sóng to, gió lớn của biển Thần Đầu (Thần Phù). Mã Viện phải sai quân đào sông qua dãy núi đá vùng này mà thư tịch cổ gọi là Tạc Khẩu.

Ngô Nhật Khánh

Vào cuối thế kỷ thứ X, khi Đinh Tiên Hoàng vừa mới mất (năm 979), Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn là nhiếp chính. Phò mã Ngô Nhật Khánh cùng quân Chiêm Thành tiến ra Hoa Lư đánh nhà Đinh, nhưng vừa tới cửa Tiểu Khang (cửa Thần Phù) thì bị gió bão đánh chìm. Ngô Nhật Khánh chết đuối, chúa Chiêm may mắn thoát nạn.

Liên kết ngoài

Động Từ Thức

Tuesday, May 6th, 2008

Động Từ Thức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Động Từ Thức còn gọi là Động Bích Đào, là một hệ thống hang động núi đá vôi với nhiều nhũ đá được gắn liền với truyền thuyết Từ Thức gặp tiên. Động nằm trên địa bàn xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Mục lục

Truyền thuyết

Từ Thức người Tống Sơn, nay là Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá làm tri huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, nhân đi chơi hội đã cởi áo gấm giúp một cô gái xinh đẹp gặp tình huống éo le. Thời gian sau chàng từ quan, tìm thú vui nhàn tản. Một lần ra cửa biển Thần Phù, Từ Thức đi qua núi và thấy một chiếc động, được bà chủ gả cho Giáng Hương, chính là người chàng đã cứu thuở nào. Sống với nhau được một năm, dù thuận hoà, êm ấm, Từ Thức chợt nhớ nhà, xin được về thăm. Cảm thông nỗi niềm của chồng, Giáng Hương sắm xe và gài sẵn phong thư kín nói lời ly biệt. Khi đến quê, tất cả đều đổi thay, Từ Thức hỏi một cụ già râu tóc bạc phơ thì mới biết đó là cháu nội của mình. Chàng đã đi quá lâu. Từ Thức muốn trở lại cõi tiên với vợ, nhưng chẳng còn dịp may … trước cửa động Từ Thức, dây leo chằng chịt đan kết thành những chiếc võng.

Thắng cảnh

Ngoài cửa động có một miếu nhỏ gọi là miếu Sơn Thần, miếu chỉ cao chấm đầu người và không rộng lắm. Ngay trên cửa động, trên vách đá được tạc bài thơ đề của Lê Quý Đôn khi viếng thăm động vào thế kỷ XVII.

Suốt chiều sâu của động, có rất nhiều nhũ đá tạo thành những hình thù độc đáo và được gắn liền với truyền thuyết về Từ Thức và Giáng Hương. Động chính gồm có 2 phần, phần ngoài rộng, trần động hình vòng cung như một chiếc bát úp khổng lồ. Phía dưới vòng cung đó có một nhũ đá toả xuống trông như một trái đào tiên, nên động còn được gọi là động Bích Đào. Dưới là nền đá phẳng, nhẵn, là vết tích đền thờ Từ Thức còn lưu lại đến hôm nay. Sau đó là đụn nhũ thạch lấp lánh được ví như những kho chứa khác nhau:

  • kho tiền là những chỗ thạch nhũ xanh nổi hình tròn từng lớp chồng lên nhau;
  • kho vàng là những thỏi đá óng ánh mầu vàng;
  • kho muối là một quần thể thạch nhũ bé, trắng toát;
  • kho gạo lại hấp dẫn hơn bởi những hòn đá mịn được gắn chặt, đều màu nâu bạc.

Vào phần trong, một cổ tam sinh có đủ trâu, dê, lợn, một mâm cỗ… tương đối giống như thật, một mâm ngũ quả… bằng đá được thiên nhiên bày sẵn từ muôn đời nay. Càng vào sâu, lòng động càng rộng ra, với nhiều dấu tích về tình yêu của Giáng Hương và Từ Thức như: buồng tắm của Giáng Hương và thư phòng của Từ Thức bằng đá; những bông hoa, những quả đào tiên, vầng trăng và có cả những đôi chim thạch nhũ. Những thanh đá thiên cầm gõ vào sẽ phát ra những thanh âm khác nhau được gọi là dàn chiêng trống.

Đi sâu vào trong, có 2 dấu chân người in vào đá từ bao giờ, tương truyền là dấu chân Từ Thức. Một vài nụ đá và một vài đường nét trên một mặt đá phẳng tạo thành bàn cờ tiên. Đôi gò bồng đảo đầy quyến rũ bên một vũng nước trong suốt có thể nhìn thấy những hòn đá dưới đáy, là giếng mà tiên nữ Giáng Hương từng tắm với nụ cười làm đắm say kẻ phàm trần. Một dải đá màu lục lốm đốm, cùng một dải đá có những hình thù ếch nhái, là ao bèo trong sự tưởng nhớ quê hương của chàng thư sinh Từ Thức. Sau cảnh này là một ngã rẽ, một ngã theo tương truyền là đường lên cõi tiên của Từ Thức. Tại đây có quán nghỉ chân bằng đá mà chàng đã từng nghỉ suốt dọc hành trình và còn đó những mắc treo áo, treo mũ bằng đá. Bên cạnh đường lên tiên là một ngã rẽ hỏm sâu theo đường xoáy ốc vẫn bí ẩn muôn đời nay, nhân dân quen gọi là đường xuống Địa ngục.

Sau lưng động là núi Thần Phù, hang Dơi…

Thơ đề của Lê Quý Đôn

Thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn khi vãn cảnh động Từ Thức đã đề tặng bài thơ tạc vào núi đá ngay cửa động như sau:

Phiên âm tiếng Nôm

Văn đạo thần tiên sự diểu mang

Bích đào động khẩu thái hoang lương

Càn khôn nhất hạt cùng Từ Thức

Vân thủy song nga lão Giáng Hương

Thạch động hữu thanh khao hiểu nguyệt

Diêm điền vô vị nát thu sương

Thế nhân khổ tác Thiên Thai mộng

Thùy thức Thiên Thai diệc hí trường

Dịch nghĩa

Nghe nói chuyện thần tiên là mơ mộng

Cửa động Bích đào nay thật hoang lương

Từ Thức chỉ mặc áo vải thô đi tìm tiên khắp trời đất

Ở cảnh mây nước, hai mắt Giáng Hương mong (Từ Thức) đến già

Trăng gần sáng, nghe trong động đá, như có tiếng gõ kêu

Giọt sương thu thấm bãi muối, muối thành nhạt

Nhiều người cho rằng Từ Thức gặp tiên cũng như chuyện (Lưu Nguyễn) vào Thiên Thai

Nhưng ai ngờ Thiên Thai chỉ là một câu chuyện đùa

Dịch Thơ

Thần tiên vẫn bảo chuyện mơ màng,

Động Bích Đào kia cỏ mọc hoang.

Trời bể tìm tòi, mê huyện Thức!

Nước mây chờ đợi, mệt nàng Hương!

Vang om thạch động trăng gần sáng,

Nhạt nhẽo diêm điền muối đẵm sương,

Giấc mộng Thiên Thai mong mỏi mãi,

Ai hay cũng chỉ hí du trường!

Động Từ Thức còn được nhiều tao nhân, mặc khách thăm viếng, ngợi ca. Năm 1992 đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích cấp quốc gia.

Liên kết ngoài